Thủ tục trọng tài thương mại và thủ tục tố tụng tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền đều là các phương thức để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại, mỗi phương thức đều có ưu và nhược điểm riêng biệt, trong bài viết hôm nay, học viên đi vào tập trung phân tích các ưu việt và hạn chế của phương thực giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng trọng tài thương mại so với tòa án.
1. Điều kiện để được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại. (Điểm hạn chế). Nếu căn cứ theo Điều 31 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 tại Khoản 6 có quy định “các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.” Tiếp tục căn cứ theo Điều 317 Luật Thương mại 2005 quy định về hình thức giải quyết tranh chấp thương mại cụ thể tại Khoản 3. “Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.”, căn cứ Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM”) tại Khoản 1 của Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài quy định “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài.”. Như vậy, để được tranh chấp có thể được giải quyết bằng Tòa án các bên chỉ cần không có thỏa thuận hoặc có thỏa thuận Tòa án giải quyết, tuy nhiên để có giải quyết bằng trọng tài buộc phải tồn tại một thỏa thuận trọng tài cụ thể đáp ứng được các quy định theo Luật TTTM và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn có liên quan.
2. Chi phí để giải quyết tranh chấp (Điểm hạn chế). Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Trọng tài thương mại 2010 thì Phí trọng tài là khoản thu từ việc cung cấp dịch vụ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Phí trọng tài gồm: Thù lao Trọng tài viên, chi phí đi lại và các chi phí khác cho Trọng tài viên; Phí tham vấn chuyên gia và các trợ giúp khác theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài; Phí hành chính; Phí chỉ định Trọng tài viên vụ việc của Trung tâm trọng tài theo yêu cầu của các bên tranh chấp; Phí sử dụng các dịch vụ tiện ích khác được cung cấp bởi Trung tâm trọng tài. Bởi TTTM nhân danh tổ chức không nhân danh nhà nước như Tòa án nhân dân nên không có gì ngạc nhiên khi biểu phí trọng tài luôn cao hơn biểu phí của Tòa án được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về việc Quy Định Về Mức Thu, Miễn, Giảm, Thu, Nộp, Quản Lý Và Sử Dụng Án Phí Và Lệ Phí Tòa Án. Đơn cử, nếu như một vụ tranh chấp kinh doanh thương mại có tài sản tranh chấp trị giá 1.000.000.000 đồng thì VIAC – Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam giải quyết với giá tầm 85.000.000 đồng, trong khi đó tại Tòa án nhân dân tầm chưa đến 40.000.000 đồng.
3. Thu thập tài liệu, chứng cứ (Điểm hạn chế). Cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua TTTM ưu tiên sự hợp tác, tự thỏa thuận giải quyết của các bạn, trong trường hợp, các bên không hợp tác để cung cấp các tài liệu, chứng cứ thì TTTM buộc phải sử dụng quyền gián tiếp thông qua Tòa án nhân dân có thẩm quyền mới có thể buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc triệu tập người làm chứng theo Điều 46, 47 Luật TTTM.
4. Tuy nhiên, giải quyết Tranh chấp thương mại thông qua TTTM so với tòa án có nhiều điểm ưu việt như: (i) Tính linh động thể hiện ở quyền tự quyết, định đoạt thời gian địa điểm giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết, ngôn ngữ giải quyết, cụm từ “lựa chọn” xuất hiện 16 lần trong Luật TTTM; (ii) Tính bảo mật: nguyên tắc xét xử không công khai, bản án của TTTM cũng vậy, khác với Tòa án luôn công khai các bản án, nguyên tắc bảo mật nếu vi phạm cũng xem như vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, có căn cứ để hủy phán quyết trọng tài; (iii) Không nhân danh nhà nước: vì Tòa án có cơ quan giải quyết tranh chấp nhân danh nhà nước, như vậy đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài và xâm phạm đến lợi ích của quốc gia, nhà nước mà Tòa án xét xử, tính vô tư, khách quan của thẩm phán cũng là công chức của quốc gia đó sẽ có sự tác động cả hai mặt chủ quan và khách quan, do đó, TTTM là sự lựa chọn phù hợp đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài; (iv) Thời gian: Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không trải qua quá trình xét xử nhiều cấp như Tòa án, nên không bị kháng cáo, kháng nghị, không như Bản án/Quyết định của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị dẫn đến tranh chấp kéo dài mấy năm dài; và (v) chất lượng phán quyết: điều này theo nhiều người có thể mang tính tùy nghi, tuy nhiên, học viên quyết định đưa vào mặt ưu điểm trên tinh thần sau khi đã đạt được tính linh động tại (i) nêu trên để lựa chọn một trung tâm trọng tài có uy tín, có thể tự lựa chọn thêm trọng tài viên để giải quyết thì phán quyết của hội đồng TTTM luôn mang tính công tâm, soát xét kỹ lưỡng từng vấn đề, yêu cầu một do nhân danh cả uy tín cá nhân, uy tín tổ chức trọng tài; (vi) Tính chuyên môn: việc mời chuyên gia trong lĩnh vực kinh doanh riêng biệt và ghi nhận ý kiến về sự hiểu biết của chuyên gia luôn được TTTM ưu tiên áp dụng trong lĩnh vực tranh chấp chuyên môn khác với Tòa án thường do các đương sự có yêu cầu thì Thẩm phán mới xét đến việc mời để ghi nhận ý kiến chuyên gia; (vii) Việc thi hành: Phán quyết trọng tài có thể được công nhận và thi hành tại hơn 160 quốc gia theo Công ước New York 1958, việc thi hành này rộng rãi về mặt địa lý và mang tính thực thi cao hơn so với việc thi hành phán của Tòa án ở tại quốc gia khác.
